CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG CHO TRẺ BẠI NÃO.

 

Posted on 25/01/2022 

 

Nội dung chính:

1. Bại não là gì?

2. Các yếu tố nguy cơ bị bại não ở trẻ.

3. Bại não được chẩn đoán như thế nào?

4. Tại sao cần phát hiện và điều trị bại não sớm?

5. Dịch vụ của chúng tôi.


Bại não là gì?

 

Bại não là một thuật ngữ chung mô tả “một nhóm các rối loạn vĩnh viễn về phát triển vận động và tư thế, gây ra các giới hạn về hoạt động do những rối loạn không tiến triển xảy ra trong não, bào thai hoặc não ở trẻ nhỏ đang phát triển. Các rối loạn vận động của bại não thường kèm theo những rối loạn về cảm giác, nhận cảm, nhận thức, giao tiếp và hành vi, động kinh và các vấn đề cơ xương thứ phát.

 

 

Các thể vận động của bại não:

 

Thể vận động: Thể vận động đề cập đến rối loạn vận động quan sát được. Mỗi thể lâm sàng liên quan chặt chẽ đến vùng não bị tổn thương.

a.Thể co cứng: Co cứng là sức cản với sự kéo căng cơ phụ thuộc vào tốc độ. Co cứng đặc trưng bởi tình trạng cứng quá mức trong các cơ khi trẻ cố gắng di chuyển hoặc giữ một tư thế chống lại trọng lực. Co cứng ở trẻ có thể thay đổi tuỳ theo mức độ tỉnh táo, cảm xúc, hoạt động, tư thế và tình trạng đau.

b.Thể loạn động / tăng động: Thể loạn động/tăng động liên quan đến sự gia tăng hoạt động của cơ, có thể gây ra những vận động bất thường quá mức, hoặc kết hợp cả hai. Bại não thể loạn động/tăng động đặc trưng bởi các bất thường về trương lực cơ và biểu hiện các rối loạn vận động khác nhau bao gồm loạn trương lực, múa vờn và múa giật.

  • Loạn trương lực đặc trưng bởi các co cơ ngắt quãng hoặc kéo dài gây các vận động xoắn vặn hoặc lặp lại.
  • Múa vờn đặc trưng bởi các vận động vặn vẹo và chậm, không kiểm soát cản trở trẻ giữ vững một tư thế. Đó là những vận động trơn tru liên tục xuất hiện ngẫu nhiên và không gồm những mảnh vận động có thể xác định được. Múa vờn có thể nặng hơn nếu cố gắng vận động tuy nhiên múa vờn cũng có thể xuất hiện lúc nghỉ. Phân biệt múa vờn với loạn trương lực ở chỗ không giữ được các tư thế kéo dài và với múa giật ở chỗ không có các mảnh vận động có thể xác định được
  • Múa giật là một chuỗi của một hoặc nhiều vận động không tự ý hoặc mảnh vận động rời rạc xuất hiện ngẫu nhiên liên tục. Múa giật được phân biệt với loạn trương lực ở bản chất xảy ra ngẫu nhiên, liên tục, không thể đoán trước của các vận động, so với các vận động hoặc tư thế rập khuôn, dễ đoán trước được hơn của loạn trương lực. Các vận động của múa giật thường có vẻ nhanh hơn những vận động của loạn trương lực. Mặc dù chứng múa giật có thể nặng hơn khi vận động, cố gắng vận động, hoặc căng thẳng, các vận động này không được tạo ra bởi các cố gắng chủ ý với cùng độ đặc hiệu về thời gian như ở loạn trương lực. Trẻ bị chứng múa giật biểu hiện bồn chồn hoặc chuyển động liên tục.

Múa vờn và múa giật thường cùng hiện diện ở bại não và khi kết hợp được gọi là múa giật - vờn.

 

 

c.Thể thất điều: Thất điều được đặc trưng bởi các chuyển động run rẩy và ảnh hưởng đến sự điều hợp và thăng bằng của người bệnh. Đây là thể bại não ít gặp nhất.

d.Các thể vận động phối hợp: Là bại não biểu hiện với nhiều hơn một thể vận động, ví dụ như co cứng và loạn trương lực. Thường thì một thể vận động sẽ chiếm ưu thế.

 

Các yếu tố nguy cơ bị bại não.

 

Các yếu tố nguy cơ bị bại não có thể ở người mẹ hoặc ở trẻ.

Các yếu tố nguy cơ thuộc mẹ bao gồm:

  • Bệnh tuyến giáp.
  • Nhiễm trùng trong thai kỳ.
  • Tiền sản giật. 
  • Chảy máu trong ba tháng giữa hoặc ba tháng cuối
  • Đa thai (sinh đôi hoặc nhiều hơn)

Các yếu tố nguy cơ thuộc trẻ bao gồm:

  • Sinh non.
  • Hạn chế tăng trưởng trong tử cung
  • Cân nặng lúc sinh thấp.
  • Biến cố gây thiếu oxy cấp trong tử cung
  • Bệnh lý não từ vừa đến nặng.
  • Co giật ở trẻ sơ sinh.
  • Nhiễm trùng sơ sinh.
  • Hạ đường huyết.
  • Vàng da.

 

 

Các yếu tố nguy cơ khác đã được xác định ở trẻ sinh đúng kỳ bao gồm:

  • Các bất thường về nhau thai.
  • Các khiếm khuyết bẩm sinh.
  • Hít phân su.
  • Đẻ bằng dụng cụ/ mổ lấy thai cấp cứu.
  • Ngạt khi sinh.
  • Hội chứng suy hô hấp

Một tỷ lệ nhỏ trẻ bị bại não sau một tháng tuổi. Trường hợp này thường là kết quả của đột quỵ, có thể xảy ra tự phát hoặc do các biến chứng liên quan đến bệnh lý khác hoặc can thiệp y tế. Ở Việt Nam, các nhiễm trùng thần kinh, đặc biệt viêm màng não, có thể gây bại não ở trẻ nhỏ.

 

Bại não được chẩn đoán như thế nào?

 

Chẩn đoán bại não bao gồm:

  • Hỏi bệnh sử và xác định các yếu tố nguy cơ.
  • Khám thần kinh.
  • Lượng giá vận động chuẩn hoá.
  • Hình ảnh học thần kinh.
  • Chẩn đoán phân biệt, bao gồm các bệnh lý tiến triển
Bại não được chẩn đoán bằng biểu hiện lâm sàng dựa trên sự xuất hiện của một rối loạn vận động gây ra do tổn thương não, hoặc sự phát triển bất thường của não ở trẻ nhỏ.
 
 
Tại sao cần phát hiện và điều trị bại não sớm?
 
Chẩn đoán sớm cho phép các hỗ trợ điều trị can thiệp sớm bắt đầu sớm khi não của trẻ vẫn còn mềm dẻo và do đó tăng cường tối đa các kết quả phát triển của trẻ. Hai năm đầu tiên của trẻ rất quan trọng đối với sự phát triển về nhận thức và vận động vì não đang trải qua tính mềm dẻo tự phát liên tục.
Trẻ bại não đạt khoảng 90% tiềm năng vận động thô của chúng vào lúc 5 tuổi và thậm chí còn sớm hơn đối với những trẻ bị khiếm khuyết trầm trọng. Điều quan trọng là phải bắt đầu càng sớm càng tốt các liệu pháp can thiệp sớm, tích cực, lặp lại, hướng nhiệm vụ cụ thể cho trẻ nhỏ bị bại não.
Chẩn đoán sớm cũng cho phép bố mẹ và gia đình có thể tiếp cận với những hỗ trợ về tinh thần và điều này rất quan trọng trong thời điểm dễ bị tổn thương như vậy.
 
 
 
Dịch vụ của chúng tôi.
 
Việc chẩn đoán và điều trị sớm là những yếu tố giúp trẻ bai não có thể giảm bớt các hậu quả nặng nề sau này và giúp trẻ có thể hòa nhập cộng đồng tốt hơn. Để hiểu thêm về cách trị liệu trẻ bại não bạn có thể liên hệ ngay với chúng tôi để được tư vấn.